QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU

Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là một quyền không còn xa lạ trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Mời bạn đọc tham khảo bài viết dưới đây của Luật Tài Nguyên để hiểu rõ hơn về quyền này!

quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

1. Nhãn hiệu là gì?

Theo Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2009: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Nhãn hiệu góp phần to lớn trong quá trình tạo nên thương hiệu của sản phẩm, dịch vụ trên thị trường nên rất cần sự bảo hộ của pháp luật. Để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ chúng ta cần đăng ký độc quyền nhãn hiệu.

Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

  • Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình dáng, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc;
  • Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác;

2. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

  • Quyền sở hữu công nghiệp:

Là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc là sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.

=> Bản chất của quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu chính đáng của chủ thể tạo ra giá trị sáng tạo trong lĩnh vực công nghiệp, qua đó chủ sở hữu sẽ được bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình với những thành quả mình tạo ra.

  • Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu:

Chủ sở hữu có quyền ngăn cấm các hành vi bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu tại (Khoản 1 Điều 129 Luật sở hữu trí tuệ 2005)

– Chủ sở hữu có quyền định đoạt nhãn hiệu, trong đó bao gồm chuyển nhượng, chuyển giao quyền cho cá nhân, tổ chức khác sở hữu và sử dụng đối với nhãn hiệu đó.

– Quyền sử dụng và cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu gồm các hành vi sau:

  • Gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh;
  • Lưu thông, chào bán. Quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ;
  • Nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ;

Quyền này chỉ được xác lập khi nhãn hiệu của chủ sở hữu được Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ. Để được cấp văn bằng bảo hộ đôc quyền thì cần phải làm thủ tục đăng ký, thủ tục như nào tham khảo tại bài viết sau: Thủ tục đăng ký nhãn hiệu.

3. Khái quát về xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

  • Đối tượng bị xem xét:

Thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu. Các đối tượng được bảo hộ được xác định trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật sở hữu trí tuệ hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký (Khoản 3 Điều 6 Luật sở hữu trí tuệ).

  • Yếu tố xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp:

Căn cứ vào Điều 11 Nghị định 105/2006/NĐ-CP yếu tố xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác định như sau:

Yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là dấu hiệu gắn trên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch, biển hiệu, phương tiện quảng cáo và các phương tiện kinh doanh khác, trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ.

– Căn cứ để xem xét yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là phạm vi bảo hộ nhãn hiệu, gồm mẫu nhãn hiệu và danh mục hàng hoá, dịch vụ được xác định tại Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc Giấy chứng nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam.

  • Để xác định một dấu hiệu bị nghi ngờ có phải:

Là yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hay không, cần phải so sánh dấu hiệu đó với nhãn hiệu, đồng thời phải so sánh sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu đó với sản phẩm, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ. Chỉ có thể khẳng định có yếu tố xâm phạm khi đáp ứng cả hai điều kiện sau đây:

– Dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ; trong đó một dấu hiệu bị coi là trùng với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có cùng cấu tạo, cách trình bày (kể cả màu sắc); một dấu hiệu bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có một số đặc điểm hoàn toàn trùng nhau hoặc tương tự đến mức không dễ dàng phân biệt với nhau về cấu tạo, cách phát âm, phiên âm đối với dấu hiệu, chữ, ý nghĩa, cách trình bày, màu sắc và gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;

– Hàng hoá, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự về bản chất hoặc có liên hệ về chức năng, công dụng và có cùng kênh tiêu thụ với hàng hoá, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ;

  • Đối với nhãn hiệu nổi tiếng, dấu hiệu bị nghi ngờ bị coi là yếu tố xâm phạm nếu:

Hàng hoá, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ đáp ứng điều kiện quy định tại điểm b khoản 3 Điều này hoặc hàng hoá, dịch vụ không trùng, không tương tự, không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng nhưng có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sản xuất, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.

Trường hợp sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt về tổng thể cấu tạo và cách trình bày so với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại thuộc phạm vi bảo hộ thì bị coi là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu theo quy định tại Điều 213 của Luật Sở hữu trí tuệ”.

  •  Người thực hiện hành vi:

Ngoài chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc có nhãn hiệu đã đăng ký quốc tế được cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc có nhãn hiệu nổi tiếng (Điều 121 Luật sở hữu trí tuệ 2005) thì bất kỳ người nào (ngoại trừ người được pháp luật hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép) sử dụng nhãn hiệu đã được bảo hộ đều là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Nếu có thắc mắc gì liên hệ ngay đến Luật Tài Nguyên để được tư vấn hỗ trợ 24/7!

[kkstarratings force]

Giải đáp pháp luật

Vui lòng để lại thông tin liên hệ, chúng tôi sẽ gọi lại ngay cho bạn



    Để lại bình luận