Kinh doanh trái phép có phải chịu trách nhiệm hình sự?? - Giải Đáp Pháp Luật

Kinh doanh trái phép có phải chịu trách nhiệm hình sự??

Kinh doanh trái phép có phải chịu trách nhiệm hình sự?

1.Thế nào là kinh doanh trái phép.

Trước khi tìm hiểu về kinh doanh trái phép có phải chịu trách nhiệm hình sự, bạn phải hiểu được kinh doanh trái phép là gì.

Kinh doanh trái phép được hiểu là hành vi kinh doanh không có đăng ký kinh doanh, kinh doanh không đúng với nội dung đã đăng ký hoặc kinh doanh không có giấy phép riêng trong trường hợp pháp luật yêu cầu phải có giấy phép.

2.Kinh doanh trái phép quy định trong Bộ Luật hình sự.

Tội kinh doanh trái phép theo quy định tại điều 159 Bộ luật hình sự 1999. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 đã bỏ quy đinh điều luật này.

Quy định của tội kinh doanh trái phép điều 159 Bộ luật hình sự 1999 đã lạc hậu và không còn phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật, sự phát triển của xã hội nhất là trong thời điểm bùng nổ công nghệ số, rất nhiều người kinh doanh trên mạng internet với quy mô nhỏ lẻ. Việc bãi bỏ tội này là phù hợp với Hiến pháp 2013, tôn trọng và đảm bảo quyền tự do kinh doanh theo nguyên tắc người dân, doanh nghiệp được đầu tư, kinh doanh những gì pháp luật không cấm. Luật doanh nghiệp 2014 cũng cụ thể hóa tư tưởng này, đó là doanh nghiệp được tự do kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật không cấm mà không cần phải xin phép.

Tuy nhiên trong BLHS 2015 cũng đã có điều khoản thay thế là điều 292 Bộ luật hình sự 2015 quy định về Tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông tội này sang phạm vi hẹp hơn đó là kinh doanh trái phép trong lĩnh vực mạng máy tính, mạng truyền thông.

Theo quy định của tội này thì không phải loại hình kinh doanh trái phép nào cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông mà chỉ những loại hình được quy định tại Khoản 1 Điều 292 BLHS 2015 thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. mặt khác, cùng hành vi kinh doanh các lĩnh vực nêu tại Điều 292 BLHS 2015, nếu tiến hành trên mạng máy tính, viễn thông thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự, còn không thực hiện trên mạng thì lại không.

Đến nay, theo quy định Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đã bãi bỏ tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông. Như vậy, với những quy định pháp luật hiện hành đã bãi bỏ quy định về tội kinh doanh trái phép. Đồng nghĩa là hành vi này sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi kinh doanh trái phép kể từ ngày 01/01/2018 nhưng vẫn bị xử lý vi phạm hành chính.

Đối với trường hợp hành vi kinh doanh trái phép xảy ra trước ngày 01/07/2016 đủ yếu tố cấu thành tội phạm, trước thời điểm Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực những vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì vẫn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 để xử lý theo quy định điểm e khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 về việc thi hành Bộ luật hình sự 2015 có hướng dẫn như sau: “Đối với hành vi kinh doanh trái phép quy định tại Điều 159 của Bộ luật hình sự năm 1999 xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2016 mà sau thời điểm đó vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì tiếp tục áp dụng quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 để xử lý”.

3.Xử phạt vi phạm hành chính về kinh doanh trái phép.

Theo quy định điều 6, nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 quy định xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng:

– Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi kinh doanh không đúng ngành nghề, mặt hàng, địa điểm kinh doanh ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

– Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động kinh doanh mà không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định.

– Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi tiếp tục hoạt động kinh doanh khi đã bị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đình chỉ kinh doanh hoặc thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

–  Phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt quy định từ khoản 1 đến khoản 3 Điều này trong trường hợp kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện”.

– Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định (Theo quy định tại Khoản 7 Điều 1 Nghị định 124/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 185/2013/NĐ-CP).

4.Kết luận Kinh doanh trái phép có phải chịu trách nhiệm hình sự?

Theo phân tích ở trên, Hiện nay những quy định về kinh doanh trái phép trong Bộ luật hình sự đều đã được bãi bỏ. Do vậy, không có cơ sở phép lý để quy trách nhiệm hình sự cho chủ thể có hành vi kinh doanh trái phép nên người kinh doanh trái phép sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Thay vào đó người hành vi kinh doanh trái phép sẽ bị xử phạt hành chính theo Nghị định 185/2013/NĐ-CP.

 

Thông tin tư vấn kinh doanh trái phép có phải chịu trách nhiệm hình sự.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *