Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ - Giải Đáp Pháp Luật

Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Luật Tài Nguyên thường xuyên nhận được câu hỏi liên quan tới hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Trong bài viết này, chúng tôi xin giải đáp một trong những thắc mắc phổ biến về vấn đề này!

Thắc mắc của bạn đọc:

Kính chào Luật Tài Nguyên, em có một câu hỏi, rất mong được Luật sư giải đáp như sau:

Theo em tìm hiểu thì pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành quy định các hành vi như hành vi xâm phạm đối với nhãn hiệu, hành vi  xâm phạm quyền tác giả,… là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, em không biết dựa vào căn cứ nào để xác định một hành vi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ?

Rất mong Luật sư sớm giải đáp câu hỏi của em. Em cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã quan tâm và chia sẻ thắc mắc của mình tới Luật Tài Nguyên. Đối với vấn đề bạn thắc mắc, chúng tôi xin phép được giải đáp dựa trên quy định của pháp luật hiện hành như sau:

Thực tế cho thấy, việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ngày càng khó khăn. Bởi việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện bằng nhiều các phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, khó lường.

Thế nào là hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ?

Theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ thì hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:

– Hành vi xâm phạm quyền tác giả (Điều 28)

– Hành vi xâm phạm quyền liên quan (Điều 35)

– Hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí (Điều 126)

– Hành vi xâm phạm đối với bí mật kinh doanh (Điều 127)

– Hành vi xâm phạm đối với nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý (Điều 129)

– Hành vi xâm phạm đối với giống cây trồng (Điều 188)

Căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ?

Căn cứ để xác định một hành vi bị coi là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định tại các điều nêu trên được quy định tại điều 5 Nghị định 105/2006/NĐ-CP  như sau:

 “Hành vi bị xem xét bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định tại các Điều 28, 35, 126, 127, 129 và 188 của Luật Sở hữu trí tuệ, khi  có đủ các căn cứ sau đây:

  1. Đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
  2. Có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét.
  3. Người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định tại các Điều 25, 26, 32, 33, khoản 2 và khoản 3 Điều 125, Điều 133, Điều 134, khoản 2 Điều 137, các Điều 145, 190 và 195 của Luật Sở hữu trí tuệ.
  4. Hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam”.

Như vậy có 4 yếu tố để xác định một hành vi có phải là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hay không.

Thứ nhất, đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Điều 3 Nghị định 105/2006/NĐ-CP giải thích: “Đối tượng bị xem xét” là đối tượng bị nghi ngờ và bị xem xét nhằm đưa ra kết luận đó có phải là đối tượng xâm phạm hay không.

Thứ hai, có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét.

Yếu tố xâm phạm được hiểu là yếu tố xuất hiện khi có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Các yếu tố xâm phạm được quy định cụ thể từ Điều 7 đến Điều 14 của Nghị định.

Thứ ba, yếu tố chủ thể.

Chủ thể thực hiện hành vi bị xem xét không thỏa mãn các điều kiện pháp luật định. Họ không phải chủ sở hữu của quyền sở hữu trí tuệ, cũng không phải là người được trao quyền theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ.

Thứ tư, hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam.

Chỉ khi hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam thì pháp luật Việt Nam mới có thể điều chỉnh. Việc này dựa trên nguyên tắc lãnh thổ trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ trong Tư pháp quốc tế. Pháp luật các nước có quy định khác nhau trong vấn đề quyền sở hữu trí tuệ. Bởi vậy, không thể xem xét một hành vi liên quan đến sở hữu trí tuệ xảy ra trên phạm vi lãnh thổ một quốc gia bằng pháp luật của quốc gia khác.

Trên đây là tư vấn của Luật Tài Nguyên. Liên hệ trực tiếp với chúng tôi nếu có thắc mắc!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *