Gây tai nạn giao thông có bị truy tố hình sự không?

 

Gây tai nạn giao thông có bị truy tố hình sự không?

Việc không may nhất khi tham gia giao thông là sảy ra tai nạn, khi sảy ra tai nạn còn dẫn đến nguy cơ phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên không phải trường hợp nào cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự cụ thể là bị truy tố hình sự. chỉ những trường hợp việc gây tai nại là do lỗi của người tham gia giao thông và vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Để bạn đọc hiểu rõ về những trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có tai nạn sảy ra, hãy theo dõi bài viết dưới đây của Luật Tài Nguyên

Gây tai nạn và phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trường hợp gây tai nại là hậu quả của hành vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Theo quy định của điều 260 BLHS quy định về tội vi phạm quy định về tham gia đường bộ

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2, Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3,Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương

cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4, Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”.

Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Theo quy định điều luật này một người gây tai nạn có đủ các dấu hiệu phạm tội sau đây.

  • Dấu hiệu pháp lý của tội phạm.

  • Khách thể của tội phạm:

Khách thể của tội phạm này là sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác được luật hình sự bảo vệ. tội phạm này xâm phạm vào những quy định của nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, đó là những quy định nhằm bảo đảm an toàn giao thông. Đảm bảo cho hoạt động giao thông đường bộ được thông suốt, được tiến hành bình thường, và bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe của công dân, bảo vệ tài sản của nhà nước, của tổ chức và tài sản của công dân.

  • Chủ thể của tội phạm.

Là người tham gia giao thông đường bộ, đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên và có năng lực TNHS. “Người tham gia giao thông” ở đây không chỉ là người điều kiện phương tiên mà còn bao gồm: người điều khiển, dẫn dắt súc vật, người đi bộ trên đường đi bộ…

  • Mặt khách quan của tội phạm.

Hành vi khách quan: Người phạm tội có hành vi vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ, cụ thể: đi quá tốc độ, chở quá trọng tải quy định, tránh, vượt trái phép; đi không đúng tuyến đường, phần đường; vi phạm các quy định khác về an toàn giao thông đường bộ như chuyên chở người, hàng không đúng số lượng, trọng tải quy định;… Để xác định hành vi vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ, phải căn cứ vào các quy định tại Luật giao thông đường bộ và các văn bản hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền.

Hậu quả:Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là tội phạm có cấu thành vật chất. Vì vậy, hậu quả là dấu hiệu bắt buộc đối với tội này. Nếu hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà chưa gây ra thiệt hại về tính mạng (làm chết người) hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng về sức khỏe (gây thương tích), tài sản của người khác thì không cấu thành tội phạm, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 126 Bộ luật Hình sự. Trên thực tế, hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gây tai nạn giao thông dẫn đến chết người, thiệt hại về tài sản rất nhiều. Hậu quả của tai nạn giao thông là một trong những căn cứ để xác định trách nhiệm đối với người gây tai nạn.

Mối quan hệ nhân quả: Hành vi vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ là nguyên nhân dẫn đến hậu quả (tai nạn giao thông) gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng của người khác. Nếu thiệt hại không phải do hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ thì không cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

  • Mặt chủ quan của tội phạm.

Lỗi của người phạm tội vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ là lỗi vô ý.

Do vậy, khi người tham gia giao thông mà gây tai nạn giao thông bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đủ các yếu tố CTTP như đã nêu ở trên.

Hình phạt dành cho người gây tai nạy trong trường hợp trên là:

Người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo 01 trong 04 khoản (từ khoản 1 đến khoản 4) Điều 206 Bộ luật Hình sự. Tùy vào hành vi vi phạm của tội phạm, hậu quả xảy ra trên thực tế để xác định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm theo khung hình phạt tương ứng.

Trường hợp miễn trách nhiệm hình sự: Khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự quy định: “3. Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự”.

Tuy nhiên, người phạm tội vi phạm các quy định về tham gia giao thông theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu người phạm tội đã tự nguyện thực hiện các biện pháp bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.

Trường hợp người tham gia giao thông không vi phạm các quy định như đã phân tích ở trên thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trên đây là bài viết của Luật Tài Nguyên giải đáp cho câu hỏi “gây tai nạn giao thông có bị truy tố hình sự không?”

Gây tai nạn giao thông có bị truy tố hình sự không

 

 

 

Giải đáp pháp luật

Vui lòng để lại thông tin liên hệ, chúng tôi sẽ gọi lại ngay cho bạn



    Để lại bình luận